Tháng này đánh dấu kỷ niệm 50 năm cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba - 13 ngày trong tháng 1962 năm XNUMX có lẽ là ngày gần nhất thế giới tiến tới một cuộc chiến tranh hạt nhân lớn. Tổng thống John F. Kennedy đã công khai cảnh báo Liên Xô không được đưa tên lửa tấn công vào Cuba. Nhưng nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã quyết định lén lút vượt qua ranh giới đỏ của Kennedy và đối đầu với người Mỹ như một việc đã rồi. Khi một máy bay giám sát của Mỹ phát hiện ra tên lửa, cuộc khủng hoảng nổ ra.Thoạt nhìn, đây là một kết quả hợp lý và có thể đoán trước được. Hoa Kỳ có lợi thế 17 trên 1 về vũ khí hạt nhân. Đơn giản là Liên Xô đã bị đánh bại.
Chưa hết, Mỹ đã không tấn công phủ đầu các địa điểm tên lửa của Liên Xô, vốn tương đối dễ bị tổn thương, bởi nguy cơ ngay cả một hoặc hai tên lửa của Liên Xô bắn vào một thành phố của Mỹ cũng đủ để ngăn chặn một cuộc tấn công đầu tiên. Ngoài ra, cả Kennedy và Khrushchev đều lo sợ rằng các chiến lược hợp lý và tính toán cẩn thận có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Khrushchev đã đưa ra một ẩn dụ sống động trong một trong những bức thư gửi Kennedy: “Bây giờ chúng tôi và ông không nên kéo hai đầu sợi dây mà ông đã thắt nút chiến tranh”.
Năm 1987, tôi là thành viên của một nhóm học giả gặp gỡ các cố vấn còn sống của Kennedy tại Đại học Harvard để nghiên cứu cuộc khủng hoảng. Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng của Kennedy, cho biết ông trở nên thận trọng hơn khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Vào thời điểm đó, ông nghĩ rằng xác suất xảy ra chiến tranh hạt nhân do cuộc khủng hoảng có thể là 50/1990 (mặc dù ông đánh giá rủi ro cao hơn nhiều sau khi biết vào những năm XNUMX rằng Liên Xô đã chuyển vũ khí hạt nhân cho Cuba).
Douglas Dillon, Bộ trưởng Tài chính của Kennedy, cho biết ông nghĩ nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân là bằng không. Ông không hiểu làm thế nào mà tình hình lại có thể leo thang thành chiến tranh hạt nhân, và do đó ông sẵn sàng thúc ép Liên Xô mạnh mẽ hơn và chấp nhận nhiều rủi ro hơn McNamara. Tướng Maxwell Taylor, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, cũng tin rằng nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân là thấp, đồng thời phàn nàn rằng Mỹ đã buông tha Liên Xô quá dễ dàng. Ông cảm thấy lẽ ra người Mỹ nên loại bỏ chế độ Castro.
Nhưng nguy cơ mất kiểm soát tình hình cũng đè nặng lên Kennedy, đó là lý do tại sao ông có một quan điểm thận trọng hơn mức mà một số cố vấn của ông mong muốn. Ý nghĩa của câu chuyện là một chút răn đe hạt nhân sẽ có tác dụng lâu dài.
Tuy nhiên, vẫn còn những điều mơ hồ về cuộc khủng hoảng tên lửa khiến khó có thể quy kết quả hoàn toàn cho thành phần hạt nhân. Sự đồng thuận của công chúng là Mỹ đã thắng. Nhưng Mỹ đã thắng được bao nhiêu và tại sao lại thắng thì rất khó xác định.
Có ít nhất hai cách giải thích về kết quả này, ngoài việc Liên Xô chấp nhận hỏa lực hạt nhân vượt trội của Mỹ. Một người tập trung vào tầm quan trọng của lợi ích tương đối của hai siêu cường trong cuộc khủng hoảng: Mỹ không chỉ có lợi ích lớn hơn ở nước láng giềng Cuba so với Liên Xô, mà còn có thể sử dụng các lực lượng thông thường để gánh chịu. Việc phong tỏa hải quân và khả năng Mỹ xâm lược đã củng cố uy tín về khả năng răn đe của Mỹ, đặt gánh nặng tâm lý lên Liên Xô.
Cách giải thích khác đặt câu hỏi về tiền đề cho rằng cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba là một chiến thắng hoàn toàn của Mỹ. Người Mỹ có ba lựa chọn: “bắn súng” (ném bom các địa điểm tên lửa); “squee out” (phong tỏa Cuba để thuyết phục Liên Xô rút tên lửa); và một cuộc “mua lại” (cung cấp cho Liên Xô thứ họ muốn).
Trong một thời gian dài, những người tham gia nói rất ít về khía cạnh mua lại của giải pháp. Nhưng bằng chứng sau đó cho thấy rằng lời hứa thầm lặng của Mỹ về việc loại bỏ các tên lửa lỗi thời khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và Ý có lẽ quan trọng hơn những gì người ta nghĩ vào thời điểm đó (Mỹ cũng đưa ra lời đảm bảo công khai rằng họ sẽ không xâm lược Cuba).
Chúng ta có thể kết luận rằng việc ngăn chặn hạt nhân có vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng và rằng khía cạnh hạt nhân chắc chắn đã được thể hiện trong suy nghĩ của Kennedy. Nhưng tỷ lệ vũ khí hạt nhân không quan trọng bằng nỗi lo sợ rằng ngay cả một vài vũ khí hạt nhân cũng sẽ gây ra sự tàn phá không thể chịu đựng được.
Những rủi ro này thực tế đến mức nào? Vào ngày 27 tháng 1962 năm XNUMX, ngay sau khi lực lượng Liên Xô ở Cuba bắn hạ một máy bay giám sát của Mỹ (làm chết phi công), một chiếc máy bay tương tự đang lấy mẫu không khí thường lệ gần Alaska đã vô tình xâm phạm không phận Liên Xô ở Siberia. May mắn thay, nó không bị bắn rơi. Nhưng, nghiêm trọng hơn, người Mỹ không hề hay biết, lực lượng Liên Xô ở Cuba đã được chỉ thị đẩy lùi một cuộc xâm lược của Mỹ và được phép sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật để làm điều đó.
Thật khó để tưởng tượng rằng một cuộc tấn công hạt nhân như vậy sẽ chỉ mang tính chiến thuật. Kenneth Waltz, một học giả người Mỹ, gần đây đã xuất bản một bài báo có tựa đề “Tại sao Iran nên sở hữu bom”. Trong một thế giới hợp lý và có thể dự đoán được, kết quả như vậy có thể tạo ra sự ổn định. Trong thế giới thực, cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba cho thấy điều đó có thể không xảy ra. Như McNamara đã nói, “Chúng tôi đã gặp may.”
*Joseph Nye, giáo sư tại Harvard, là tác giả cuốn sách “Tương lai của quyền lực”. © Dự án Syndicate 2012
(Zaman ngày nay)



